Công ty Cổ phần ong mật Daklak

07/03/2021 8:21:25 CH
Xem cỡ chữ:
Đọc bài viết:
Phân loại ong mật
Ong mật là loài động vật thuộc ngành Chân khớp (tiết túc) (Ar htropoda), lớp Côn trùng (ingecta), bộ Cánh màng (ilymenoplcra), họ ong mật Aptsdite, chi (giống) ong mật Apis. Trên thế giới có 7 loài ong cho mật nhưng ở đây chỉ kể 4 loài chính sau:

Các loài ong mật chủ yếu

Về phân loại ong mật, ở Việt Nam có cả 4 loài ong mật kể trên nhưng chỉ 2 loài A. cerana và A mellifera có giá trị kinh tế cao đang được nuôi rộng rãi. Hai loài A. ilorsata và A. florea là loài ong sống hoang dại chưa được nghiên cứu thuần hoá, mới dừng ở mức độ khai thác tự nhiên.

Ong ruồi (ong nhỏ xíu – Apisflorea)

cắt túi mật ong

cắt túi mật ong

Ong ruồi là loài có kích thước nhỏ nhất trong giống ong (chi) Apis. Sống ở vùng ấm áp của Châu Á. Phía tây từ Oman đến phía dông là Inđônêxia, chủ yếu là ở Pakixtan, Ấn Độ, Srilanca, Makiixia, Thái Lan, Việt Nam và cực nam Trung Quốc.

Kích thước cơ thể  ong ruồi nhỏ: chiều dài của ong chúa là 13mm. Ong thợ 7 – 8 m. Ong đực là 13mm. Sự chênh lệch về kích thước giữa rất lớn. ong đực có màu đen, ong thợ có màu đỏ gạch và có chiều dài vòi hút 3,44mm.

tổ ong ruồi

tổ ong ruồi

Ong xây một bánh tổ trốn cành cây nhỏ lộ ra ngoài không khí, phía trên bánh tổ phình ra thành hình chỏm bám vào cành cây, từ đó bánh tổ được treo rủ xuống. Bánh tổ được ong đậu kín bằng 3 – 4 lớp (khoảng 3/4 số ong của đàn) để bảo vệ và điều hoà nhiệt độ ở phạm vi 32 – 36°C. Phần bánh tổ bao quanh cành cây là các lỗ tổ chứa mật, bề mặt hoi cong, là nơi ong thu hoạch ra vào, là chỗ để ong trinh sát và nhảy múa báo hiệu về nguồn thức ăn. Sát các lỗ lỗ mật là các lỗ tổ nuôi ấu trùng ong thợ. Vào mùa chia đàn ở phía dưới có các lỗ tổ ong đực và một vài mũ chúa.

Ở hai đầu cành phía ngoài tổ được ong bọc bằng một lớp keo dính rộng 2,5 – 4cm để ngăn ngừa kiến tấn công vào tổ. Vào mùa chia đàn có thể có vài đàn chia bay ra từ một đàn đông quân. Ong A.florea dễ bỏ tổ bốc bay khi thiếu thức ăn, thời tiết khắc nghiệt và bị kẻ thù tấn công. Dự trữ mật của ong A.florea ít hơn các loài khác từ 0,7 – 1,2kg nên ít có giá trị kinh tế. Nhưng ở một số vùng nhiều ong nông dân sống bằng nghề săn mật ong, có người còn cắt cành cây nhỏ có bánh tổ và cả ong buộc vào cành nhỏ gần nhà để khai thác. Khi khai thác họ chỉ cắt phần mật rồi dùng dây lạt buộc vào phần bánh tổ có nhộng và ấu trùng vào cành cây. Bằng phương pháp này có thể thu hoạch mật 2 – 3 lần từ một tổ.

Ở nước ta, ong A. florea có nhiều ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, Sơn La… và các tỉnh phía Nam nơi có nhiều rừng tràm như Long A, Đồng Tháp, Minh Hải, Kiên Giang… Ở Việt Nam có loài ong khác có cấu tạo, tập tính và phân bố tương tự ong A. florea nhưng nhỏ hơn một chút là A. andrenifongis. Cơ thể của ong này (phần lưng bụng) có màu đen, còn ở ong A.florea có màu hung đỏ, Ong A. andrenifongis có tập tính hung dữ hơn ong A.florea.

Ong khoái (Apis dorsata còn gọi ong gác kèo)

Ong khoái có phân bố tương tự như là ong ruồi: phía tây Ấn Độ, Apganixtan đến phía đông là Philipin; phía bắc từ nam Trung Quốc xuống phía nam đảo Timor. Nó có tên gọi là “khổng lồ” bởi vì có kích thước lớn nhất trong giống Apis. Chiều dài cụ thể của ong thợ là 18mm, ong đực là 16mm. Ong chúa chỉ dài hơn ong thợ một chút. Bụng ong thợ có màu nâu dỏ, chiều dài vòi hút ong thợ là 6,68mm. Ong A. dorsata chỉ xây một bánh tổ ở ngoài không khí dưới các vách đá hoặc cành cây. Kích thước các bánh tổ khá lớn: dài 0,5 – 2m, rộng 0,5 – 0,7m, phía trên bánh tổ là nơi dự trữ mật, tiếp theo là phần chứa phấn rồi đến chỗ nuôi ấu trùng.

ong ruồi

ong ruồi

Bình quân một bánh tổ có 23 nghìn lỗ tổ. Chiều dầy bánh tổ nơi dự trữ mật là 10 – 20cm, chỗ nuôi ấu trùng là 3,5cm. Lỗ tổ ong thợ và ong đực có kích thước như nhau (rộng 5,35 – 5,64mm, sâu 16mm). Các lỗ tổ ong đực A. doisata không nằm tập trung thành khối và có số lượng lớn ở phía dưới bánh tổ như ong A. cerana mà nằm theo dải, xen kẽ với các lỗ tổ ong thợ. Người ta có thể thấy rõ các dải ong đực có vít nắp cao hơn và tạo thành dải ở chỗ ong thợ đã nở (vì ong thợ có thời gian phát triển ngắn hơn). Phần dưới bánh tổ quay ra ngoài sáng (chỗ tiếp giáp giữa phần dự trữ mật, phấn và nuôi ấu trùng) gọi là miệng, đó là phần hoạt động của đàn ong, là nơi ong thu hoạch bay ra vào. Và đây căng là nơi diễn ra các điệu múa của ong trinh sát để thông báo cho đồng loại biết nơi có nguồn thức ăn.

ong gác kèo

ong gác kèo

Bên ngoài bánh tổ có lớp ong đậu bám vào rất dày tạo thành lớp “màn bảo vệ”. Giữa lớp màn bảo vệ và bánh tổ có khoảng cách 1 – 2cm là lối đi của ong nuôi dưỡng chăm sóc ấu trùng, chế biến mật hoa thành mật ong và làm các công việc khác trong tổ. Ong A. dorsata có khả năng điều hoà nhiệt độ dao dộng 27 – 37°C (Mardan. 1989). Trọng lượng một đàn ong là 5 – 10kg, 1kg có khoảng 6500 con (Mutto, 1956). Dự trữ mật bình quân là 4 – 6kg một đàn, cá biệt là 45 – 50kg. Ong A. dorsala thu hoạch mật rất chăm chỉ, chúng bắt đầu đi lấy mật sớm hơn vào buổi sáng và kết thúc muộn hơn vào buổi tối so với ong ruồi A.florea và ong Châu Á A.cerana. Đôi khi người ta còn thấy ong thu hoạch vào những đêm sáng trăng (Divan và Salvi.1965). Thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành của ong thợ là 16 – 20 ngày, ong chúa 13 – 13,5 ngày và ong đực 20 – 23,5 ngày (Qayvum và Nebil L. 1968)

Ong A. dorsata nổi tiếng là hung dữ và bảo vệ tổ rất tốt, có tới 80 – 90% ong thợ đậu vào lớp màn bảo vệ. Khi có tín hiệu báo động các con ong đậu ở phần “miệng” phía dưới tấm màn bảo vệ di chuyển nhanh chóng, chúng vẫy cánh tạo thành tiếng huýt gió để de dọa kẻ thù. Khi tấn công có đến hàng trăm con ong bay ra cùng lao vào kẻ thù và đuổi theo kẻ thù tới vài trăm mét. Ở rừng nhiệt đới của một số nước như Ấn Độ, Malaixia, Lào, Campuchia, Việt Nam, Philipin… người ta thấy có rất nhiều tổ ong (30 – 150 tổ) trên cùng một cây cao 3 – 50cm, gọi là cây ong.

mật ong gác kèo

mật ong gác kèo

Mùa chia đàn của ong A. dorsata trùng với mùa chia đàn của ong nội A. ceranat ở trong vùng. Trước khi chia đàn, ong xây 300 – 400 lỗ tổ ong đực và 5 – 10 mũ chúa ở phía dưới bánh tổ. Lỗ tổ ong đực không xây liền nhau ỏ một chỗ như các loài ong khác mà xây lỗ ở trên bánh tổ thành từng vòng. Từ một đàn có thể chia thành vài đàn bay ra. Ong A. dorsata thường di cư theo mùa để chuyển đến vùng có cây nguồn mật và khí hậu thích hợp. Nó có thể di cư xa 50 – 200km.

Ở các nước Ấn Độ, Malaixia, Inđônêxia, Lào… người ta thường tổ chức thu hoạch mật ong A. dorsata vào ban đêm (những đêm tối trời): trèo lên cây dùng khói hun vào tổ, rồi quét ong ra cắt bánh tổ cho vào các giỏ hoặc túi vải rồi lọc qua vải màn. Ở Ấn Độ, Lào… tới 60 – 70% sản lượng mật và sáp là thu hoạch từ ong A. dorsata.

 

Ở nước ta ong A. dorsata phân bố ở các tỉnh rừng núi phía Bắc, các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và đặc biệt nhiều các tỉnh cực Nam nơi có rừng tràm ngập nước. Việc khai thác mật ở các tỉnh phía Bắc, miền Trung và ở Tây Nquyên cũng giống như ở các nước khác do người săn lùng mật ong bằng cách dùng lửa và khói để đuổi ong hoặc tiêu diệt cả đàn khi biết tổ đã có mật (bằng kinh nghiệm quan sát: khi thấy phần trên bánh tổ quay ra sáng được ong xây và đậu phình ra là có mật và mật đã chín)

Lấy mật ong gác kèo

Lấy mật ong gác kèo

Ở hai tỉnh Minh Hải và Kiên Giang, nơi có diện tích rừng tràm lớn nhất người dân đã có hình thức khai thác ong A. dorsata rất độc đáo có một không hai trên thế giới. Họ gác kèo hấp dẫn ong về làm tổ, khi đàn ong đã có mật họ chỉ khai thác phần mật, vì vậy mỗi vụ khai thác được 2 – 3 lần. (Bởi thế, ong khoái có tên gọi là “ong gác kèo”). Kèo ong thường có chiều dài 2m, đường kính 0,1 – 0,2m được bổ đôi và gác nghiêng trên hai cọc: một cọc cao 1,8 – 2m, một cọc thấp 1,0 – 1,5m. Mặt rộng của kèo được đặt hướng lên phía trên để nước chảy xuôi xuống phía dưới mà không vào đàn ong. Đầu kèo cao quay ra khoảng trống có đường kính 4 – 5m, gọi là trảng. Kèo ong thường được làm bằng các loại gỗ không mùi như tràm, cau mốp, giá. Bình quân mỗi người gác kèo có khoảng 50 – 60 kèo và thu được khoảng 250kg mật một năm. Sản lượng mật ong ở vùng U Minh hàng năm ước tính vào khoảng 80 tấn.

Trước đây ở Kahmanlan (Inđônêxia) những người đánh cá cũng có kỹ thuật gác kèo tương tự để thu hoạch mật (Demol’S 1993) nhưng ngày nay số kèo ở vùng đó chỉ còn rất ít. Trong tương lai kĩ thuật gác kèo của người dân vùng U Minh sẽ được phổ biến tới các vùng khai thác có điều kiện nguồn hoa tương tự ở nước ta cũng như ở các nước khác thuộc Châu Á.

Tuy nhiên, do việc phá rừng mạnh mẽ và việc khai thác ong không hợp lí làm số lượng đàn ong A. dorsata ở Châu Á nói chung cũng như ở nước ta đang giảm sút nghiêm trọng.

Ở Nêpan cũng có một loài ong tương tự là A. laboriosa. Loài ong này thường làm tổ ở các vách đá thuộc các thung lăng của dãy núi Himalaya nơi có độ cao 2000 – 3000m so với mặt biển.

Ổ ong gác kèo

Ổ ong gác kèo

Ong Châu Á nội địa (Apis cerana)

Ong A. cerana đã được nuôi hàng nghìn năm ở Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác. Trong tự nhiên nó có phân bố rộng hơn so với ong A.florea và A. dorsata. Phía tây từ biên giới Iran, Philipin; phía bắc là vùng UssHri của Liên bang Nga tới phía nam là Inđonexia. Từ năm 1987 chúng được đưa vào Papua Niughine. Do phạm vi phân bố rộng, nên có nhiều nơi (theo khu vực địa lí) chúng khác nhau nhiều về kích thước lỗ tổ, kích thước cơ thể ong, số lượng ong trong đàn, lượng mật dự trữ, đặc tính chia đàn bốc bay…. Các nòi ôn đới, cận nhiệt đới dự trữ mật nhiều hơn, ít chia đàn và bốc bay hơn các nòi ở vùng nhiệt đới phía nam.

Ong A. cerana xây vài bánh tổ ở chỗ kín ở trong hốc cây, hốc đá, đôi khi dưới mái nhà … Do đặc điểm này người dân ở vùng Châu Á nuôi ong trong các hốc tường, đõ, vò rỗng, hộp vuông…

Theo Ruttner, 1987, ong A. cerami có 4 phân loài:

  • cerana cerana;
  • cerana inchca;
  • ceraua himalaya;
  • cerana japonica;

Theo Yang Guang Huang (1989, 1992), riêng ở Trung Quốc đã có 5 phân loài:

ong châu á nội địa

ong châu á nội địa

– cerana cerana;

– cerana indica và 3 phân loài mới;

– cerana abaengis;

– cerana skorivoki;

– cerana hainanengis;

 

Từ những năm 1950, ong A. cerana được chuyển từ thùng ong cổ truyền sang nuôi một cách rộng rãi trong thùng có cầu di động được ở Trung Quốc, Ấn Độ. Việt Nam… Các nước nuôi nhiều ong A. cerana là Trung Quốc 2 triệu dân trong đó 50% là nuôi trong thùng hiện đại với năng suất mật bình quân 20kg/đàn (Yang 1992); Ấn Độ nuôi trên 700 nghìn dân. Pakixtan 46 nghìn đàn (Crane, E. 1989). Việt Nam có trên 100 nghìn đàn trong đó 500 nghìn đàn nuôi trong thùng hiện đại.

apis cerana

apis cerana

Ngày nay ở khu vực Châu Á số lượng các đàn ong A. cerana đang bị giảm dần, một số vùng có nguy cơ tử vong, nguyên nhân là do nạn phá rừng ồ ạt và việc nhập giống ong Châu Âu A. mellifera có năng suất cao hơn. Thậm chí cả ở vùng Casơmia là nơi giống ong A. cerana phát triển không thua kém ong A. mellifera về kích thước, cơ thể và năng suất mật.

Gần đây người ta phát hiện lại loài ong mắt đỏ Apis koschevnikovi ở Sabat (Malaixia), miền nam Kahmantan và tây đảo Xumalra (Inđônêxia) có kích thước và tập tính gần giống ong Châu Á A.cerana.

Ong Châu Âu (Apis mellifera)

Có 24 phân loài, trước đây chỉ phân bố ở Châu Âu, Châu Phi và Tây Châu Á. Từ thế kỉ XVII, chúng được đưa đến nuôi ở Châu Mỹ, Châu Úc và Nin Zilân. Do có năng suất cao và cho nhiều loại sản phẩm, hiện nay chúng được nuôi rộng rãi ở khắp các châu lục.

Tổ của ong A. mellifera cũng giống như của A. cerana gồm những bánh tổ song song thẳng đứng xây trong chỗ kín. Nhưng do kích thước cơ thể lớn, số quân đông hơn nên tổ của chúng rộng chứa khoảng 45 lít mật (A. cerana 20 – 25 lít). Số lượng quân đóng 20.000 – 60.000 con và dự trữ mật nhiều: 25 – 30kg/đàn. Ong ít bốc bay trừ các nòi ong ở Châu Phi. Do điều kiện mùa đông ở Châu Âu rất lạnh và kéo dài chỉ những đàn dự trữ nhiều thức ăn mới sống sót nổi, nếu không đủ sẽ bị chết vì lạnh và đói. Trong số 24 loài thì có 4 phân loài được nuôi rộng rãi nhất là: Apis mellifera ligustica (ong Ý), A.m. carnica, A.m. Caucasia (ong Capcazo) và ong nâu tây Châu Âu A.m. mellifera.

Apis mellifera

Apis mellifera

Trong số các loài ong mật thì ong A. mellifera được nghiên cứu sớm nhất và đầy đủ nhất. Ngày nay ong A. mellifera được du nhập và nuôi rộng rãi ở Châu Á. Một số nơi như Trung Quốc, Nhật, Đài Loan, triều Tiên, Bắc Thái Lan, Bắc Ấn Độ đã nhập thành công ong A. mellifera ra và cho sản phẩm cao. Nhưng ở nhiều nơi có nguồn mật rải rác, khí hậu khắc nghiệt thì việc nhập ong bị thất bại, do loài ong này còn bị các kí sinh như: Varroa-jacobsoni, Tropilaelap.s clareae và một số kẻ thù như ong vò vẽ (Vespa), chim ăn ong (Meorops) tấn công. Việc nhập A. mellifera cũng mang theo các loài kí sinh và bệnh như về khí quản (Acarapix woodi), bệnh thối ấu trùng Châu Âu, bệnh ấu trùng túi (Sacbrood) bào tử trùng (Nosema)…cho ong A. cerana gây nên hiện tượng rất phức tạp làm giảm số lượng đàn A. cerana mà chưa có biện pháp giải quyết.

Apis mellifera

Apis mellifera

Nuôi ong châu Âu (ong Ý) ở Miền Nam Việt Nam

Vào đầu những năm 1960, 200 đàn ong Apis metifera gốc Ý được nhập từ Hồng Kông vào Miền Nam nước ta. Qua hơn 4 thập kỉ chúng đã tỏ ra thích nghi tốt với điều kiện nguồn hoa và khí hậu ở một số vùng của Việt Nam như ở các tỉnh Lâm Đổng, Gia Lai, Kon Tum, Ban Mê thuột, Đồng Nai, Tiền Giang… Những tỉnh trên có cây nguồn mật phong phú, số lượng nhiều, khí hậu lại ổn định, nên các đàn ong phát triển tốt, năng suất mật cao: bình quân 30kg/ đàn/năm, cá biệt có nơi như ở Gia Lai năng suất đạt 50kg/đàn/năm.

Hiện nay số đàn ong Ý của nước ta có khoảng 70.000 – 80.000 đàn, cho sản lượng khoảng 2000 tấn, chiếm 70% tổng sản lượng mật của cả nước và chiếm 100% lượng mật xuất khẩu. Các sản phẩm của ong Ý rất đa dạng: ngoài mật, sáp ong, người nuôi ong còn thu được phấn hoa và sữa ong chúa. Ong Ý lại có ưu điểm có tính công nghiệp cao, ít chia đàn bốc bay nên một người nuôi ong có thể quản lí được 200 – 300 đàn. Do có đặc tính ưu việt nên nghề nuôi ong Ý đang trở thành nghề sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao (GTSL/CPSX = 1.11 (giá trị sản lượng/chi phí sản xuất) ( Phạm Thanh Bình và Nguyễn Quang Tuấn 1992).

ong Ý

ong Ý

Vì thế vào đầu những năm 1990 ong mới được đưa ồ ạt ra nuôi ở các tỉnh Miền Bắc và các tỉnh cực Nam. Tuy nhiên ở các tỉnh Mìển Bắc, Miền Trung và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là nơi có nguồn mật phân tán, khí hậu hay thay đổi thì hiệu quả kinh tế của ong ngoại chưa cao vì phải chi phí cho vận chuyển và đường cho ong ăn nhiều mà giá đường ở nước ta lại đắt đỏ. Vì thế nên nuôi ong Ý có độ rủi ro khá cao.

Trong khi đó giống ong nội địa Apis cerana lại có thể phát triển tốt ở cả các vùng có nguồn lực tập trung cũng như phân tán vì nó là ong bản xứ. Ong nội địa có thể nuôi di chuyển theo quy mô lớn, còn ong Ý có thể nuôi cố định, quy mô nhỏ. Theo Phạm Thanh Bình và Nguyễn Quang Tuấn (1994), nghề nuôi ong nội ở Miền Nam nước ta tuy là nghề phụ nhưng có hiệu quá kinh tế rất cao, GTSL/CPSX = 2,97.

Tuy nhiên do mật ong nội có thủy phần cao, khi bảo quản mật dễ bị lên men nên người nuôi ong quy mô lớn gặp phải vấn đề khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Ngược lại, người nuôi ong quy mô nhỏ sẵn sàng tiêu thụ mật của mình với giá cao hơn giá xuất khẩu 2 – 5 lần. Do đó cứ mỗi địa phương trước khi chọn nuôi giống ong nào, nội hay ngoại, người nuôi ong phải cân nhắc về lượng cây hoa, nguồn mật, khả năng đầu tư về thời gian, tiền vốn của mình để quyết định.

tổ ong Ý

tổ ong Ý

Ong Phi hoá (ong lai Phi)

Năm 1956 W.E.Kerr đã chuyển 63 ong chúa Châu Phi nhiệt đới nòi Apis mellifera scutellata từ Nam Phi và Tanzania tới Piracicaba, Spaulo Brazin với ý đồ tăng năng suất mật thay cho loài A. mellifera có nguồn gốc Châu Âu đã nhập vào những năm trước. Năm 1957 một số đàn ong chia đàn và do dó dẫn đến việc hình thành giống ong lai của nòi ong Châu Phi với nòi ong Châu Âu.

Ong lai Phi tuy tụ đàn nhỏ nhưng khả năng chia đàn rất cao (5 – 10 đàn/năm) lại hay bốc bay nên khả năng lan truyền rất lớn: 300 – 500 km/năm. Cho đến nay nó đã lan truyền tới gần hết vùng Nam Mỹ và di chuyển qua Mêhico vào tới Hoa Kỳ. Ong lai Phi rất hung dữ, đốt chết nhiều người và gia súc khi tới gần chúng. Vì thế còn được gọi là loài ong giết người. Do đặc tính hung dữ gây khó khăn trong khai thác nên năng suất mật thấp, đó đang là một vấn đề nan giải cho nghề nuôi ong ở Châu Mỹ.

https://caytrongvatnuoi.com/
Các bài khác
     

Cẩm nang

Đọc nhiều nhất

  • Lợi ích khi uống nước ấm pha mật ong

    Có lẽ bạn chỉ nghe lợi ích của ly nước ấm vào buổi sáng hay mật ong rất tốt cho da mà chưa tự hỏi sự kết hợp giữa chúng sẽ mang lại hiệu quả như thế nào?

  • Phân loại ong mật

    Ong mật là loài động vật thuộc ngành Chân khớp (tiết túc) (Ar htropoda), lớp Côn trùng (ingecta), bộ Cánh màng (ilymenoplcra), họ ong mật Aptsdite, chi (giống) ong mật Apis. Trên thế giới có 7 loài ong cho mật nhưng ở đây chỉ kể 4 loài chính sau:

  • Sử dụng mật ong đúng cách

    Mật ong có lợi khi uống vào buổi sáng, tối, pha dưới nước ấm dưới 50 độ để giữ được tác dụng như tăng sức đề kháng, thanh lọc cơ thể, trị ho… Ăn uống, rèn luyện sức khỏe là ưu tiên hàng đầu đối với nhiều người, nhiều gia đình để phòng tránh lây nhiễm dịch bệnh. Trong đó, mật ong được xem là "liều thuốc" cho sức khỏe nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng cách.

  • Kỹ thuật nuôi ong mật (ong nội- Apis cerana)

    Những năm qua, nghề nuôi ong lấy mật phát triển mạnh với quy mô nông hộ. Để nuôi ong mật cho hiệu quả cao, người chăn nuôi cần chú trọng đến kỹ thuật nuôi từ khâu chọn giống, chọn địa điểm, tạo chúa….cho đến thu hoạch mật. Sau đây, Ban biên tập xin giới thiệu đến quý bạn đọc kỹ thuật nuôi ong mật (giống ong nội).

  • Các Loại Mật Ong Phổ Biến Trên Thị Trường

    Từ xa xưa, mật ong được biết đến như là một loại “thực phẩm vàng” chứa rất nhiều chất dinh dưỡng mà thiên nhiên đã ban tặng để phục vụ cho sức khỏe con người. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại mật ong với những cấp độ và giá trị khác nhau.

  • Chuyện gì xảy ra nếu uống mật ong mỗi ngày?

    Nhiều người có thể thắc mắc rằng, mật ong ngọt, độ đường cao, làm sao việc uống liên tục lại có thể lợi cho sức khỏe?